Với tính chất lỏng và có ánh kim, thủy ngân đã được một thầy
thuốc người Hy Lạp đặt cho cái tên “nước bạc”. Theo tiếng Latinh, kim loại này
có tên là hydrargyrum. Ở châu Âu, nó lại được lấy theo tên của một vị thần La
Mã - thần Mercury.
Trong nhiều tài liệu cổ, người ta đã đề cập đến tác dụng chữa
bệnh của thủy ngân. Các thầy thuốc thời xưa mô tả cách họ điều trị bệnh nhân bị
xoắn ruột bằng cách rót một lượng thủy ngân chừng hơn 200 gam vào dạ dày người
bệnh. Họ cho rằng “nước bạc” nặng và linh động sẽ luồn lách trong ruột để nắn lại
các đoạn ruột bị xoắn.
Hàng thế kỷ sau đó, thủy ngân vẫn được “trọng dụng” để chữa
bệnh, chẳng hạn để chữa bệnh giang mai vào thế kỷ 16, trước khi có các chất
kháng sinh. Trong suốt thế kỷ 19, loại thần dược có tên là “Blue mass” là một dạng
thuốc viên thành phần chính là thủy ngân, đã được các thầy thuốc dùng để điều
trị các bệnh như táo bón, trầm cảm, đau răng và thậm chí dùng trong việc sinh nở.
Cho đến đầu thế kỷ 20, thủy ngân được cấp phát cho trẻ em hằng năm như là thuốc
nhuận tràng và tẩy giun.
Những vụ án kinh hoàng
Việc sử dụng thủy ngân sai trong quá khứ đã dẫn đến những hậu
quả khôn lường. Những nạn nhân đầu tiên có lẽ là các nhà giả kim thuật.
Từ thời cổ đại, các nhà giả kim thuật đã biết sử dụng thủy
ngân để chế ra một số kim loại khác, đặc biệt là vàng. Trong những “phòng thí
nghiệm” sơ sài, các nhà giả kim Trung Hoa, Ai Cập, Ả Rập ngày đêm chung sống với
thứ chất lỏng kỳ lạ để mong tìm được “bí quyết” chế ra vàng. Họ không biết rằng,
hơi thủy ngân đã xâm nhập đường hô hấp, ngấm qua da... vào cơ thể họ. Hậu quả
cuối cùng họ đều mắc những chứng bệnh kỳ lạ như ảo giác, ám ảnh, cơ thể suy nhược
và chết một cách bí hiểm.
Công trình mạ mái vòm nhà thờ Isaac ở Petecbua (Nga) đã cướp
đi hàng chục sinh mạng người thợ. Vì thủy ngân có khả năng hòa tan nhiều kim loại,
tạo thành “hỗn hống” (amalgam), người ta đã đem hơn 100kg vàng nguyên chất hòa
tan trong thủy ngân thành hỗn hống, sau đó tráng lên những tấm đồng đường kính
lớn hàng chục mét. Các tấm đồng này nung nóng trên những cái lò đặc biệt cho đến
khi thủy ngân bốc hơi hết và để lại một lớp vàng rất mỏng trên tấm đồng. Những
người thợ làm vòm nhà thờ khi đó dù được trang bị bằng quần áo lao động và che
mặt bằng một tấm kính, song cũng không ngăn được thứ hơi độc chết người màu
xanh nhạt xâm nhập cơ thể họ. Hơn 10 người thợ đã chết vì những căn bệnh bí hiểm.
Thời đó, người ta đã thêu dệt nên những câu chuyện liên quan đến ma quỷ trong vụ
án này.
Những cơn điên loạn và cái chết của Sa hoàng Ivan IV
Vaxilievich (1530 - 1564) là một bí ẩn mà gần đây mới được giải mã. Các tài liệu
ghi lại ông vua này có một sức khỏe bình thường, nhưng sau đó mắc chứng bệnh kỳ
lạ, thỉnh thoảng lên cơn điên loạn. Trong một cơn cuồng nộ như thế, ông ta đã
giết chết chính con trai của mình. Ông ta thường xuyên bị ám ảnh bởi những ảo
giác, luôn nghi ngờ và lúc nào cũng run sợ vì cho rằng tai họa đang rình rập
xung quanh. Khi đó người ta cho rằng ông bị quỷ ám. Nhưng việc khai quật hài cốt
của ông do các nhà khoa học tiến hành sau này đã cho thấy thủ phạm chính là thủy
ngân. Do ông bị mắc chứng đau nhức xương, các ngự y đã kê đơn cho sử dụng nhiều
loại thuốc mỡ chứa thủy ngân trong một thời gian dài, khiến ông bị ngộ độc. Xét
nghiệm cho thấy hàm lượng thủy ngân trong xương của nhà vua rất cao.
Các nhà sử học từng nghiên cứu các kho lưu trữ của thế kỷ 17 đã khẳng định, sự
nhiễm độc thủy ngân cũng là nguyên nhân gây nên cái chết của vua Carl (Charles)
II thuộc triều đại Stuart ở nước Anh. Vì quá say mê những ý tưởng giả kim thuật,
nhà vua đã trang bị một phòng thí nghiệm trong cung đình; tại đó, ông đã sử dụng
tất cả thời gian rỗi để nung thủy ngân. Trong nhiều tài liệu có mô tả các triệu
chứng của Carl II như tính cáu gắt, chứng co giật, bệnh niệu độc (bệnh đái ra
các chất độc) kinh niên. Các bệnh này do tác động lâu dài của hơi thủy ngân gây
ra. Mặc dầu các vị ngự y đã thử dùng đủ mọi phương thuốc hiệu nghiệm nhất của y
học thời bấy giờ: hút máu, uống ký ninh nhưng vẫn không thể cứu được nhà vua.
Những vụ án thời hiện đại
Đến tận thế kỷ 20, thủy ngân vẫn gây những vụ án kinh hoàng
tại nhiều nơi. Tại Nhật Bản - đất nước có nền công nghiệp phát triển cũng đã từng
chấn động do thảm họa thủy ngân, mà người ta hay gọi là thảm họa Minamata.
Năm 1965, một vụ nhiễm độc trên diện rộng ở Nigata cũng xảy
ra tương tự như ở Minamata và thủ phạm là chất thải chứa thủy ngân của một công
ty khai khoáng trên địa bàn. Năm 2001, có khoảng 1.700 trong số 2.200 người bị
chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là
do bị ngộ độc vì ăn cá ở địa phương.
Và mới đây, một quan chức Nhật Bản cho biết thịt cá voi và
cá heo cung cấp cho các buổi ăn trưa tại những trường học trên toàn nước này đã
nhiễm một lượng thủy ngân vượt xa tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế.
Ngày nay, với tốc độ phát triển của các nền công nghiệp hiện
đại, người ta càng lo ngại đến nguy cơ nhiễm độc thủy ngân. Tuy vậy, cũng phải
đánh giá một cách công bằng. Thủy ngân chính là một “người bạn” thuộc dạng lâu
năm nhất của con người và mang lại nhiều lợi ích nếu biết sử dụng đúng đắn.
Nếu nhiệt kế thủy ngân bị vỡ , thủy ngân thoát ra ngoài tuy rất ít, không nguy hiểm lắm nhưng cũng phải tránh tiếp xúc với nó. Lúc đó, bạn có thể dùng nam châm để hít các hạt thủy ngân rơi vãi ra ngoài và đựng vào chai. Ở Pháp, người ta đem đến giao sở vệ sinh ở tòa thị chánh những hạt thủy ngân đó. Nhớ rửa tay cẩn thận.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Các bạn có thắc mắc gì hãy để lại Comments dưới đây. Tôi sẽ trả lời cho các bạn trong thời gian sớm nhất.